Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1419/QĐ-UBND về việc công bố danh mục thủ tục hành chính lĩnh vực Môi trường thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Nông nghiệp và Môi trường | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1424/QĐ-UBND về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1477/QĐ-UBND về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tư pháp | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1492/QĐ-UBND về việc ban quy trình nội bộ, quy trình điện tử giải quyết thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1493/QĐ-UBND về việc ban hành quy trình nội bộ, quy trình điện tử giải quyết thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1591/QĐ-UBND về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Xây dựng | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1543/QĐ-UBND về việc công bố thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Nội vụ | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1581/QĐ-UBND về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Y tế | Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1607/QĐ-UBND về việc bãi bỏ các quyết định quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc lĩnh vực Văn hóa | Ngày 20/3/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1609/QĐ-UBND về việc bãi bỏ các Quyết định |

Quản lý người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc

Ngày 13/10/2014, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch số 5264/KH-UBND triển khai thực hiện Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc, cụ thể như sau:

1. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động đối với người lao động Việt Nam đi làm việc tại Hàn Quốc và gia đình, thân nhân người lao động đi làm việc tại Hàn quốc:

a) Thông tin, truyên tuyền về chính sách, pháp luật xuất khẩu lao động và các quy định hướng dẫn chương trình đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại Hàn Quốc, trong đó tập trung thông tin, tuyên truyền các nội dung:

- Thông tin về các chính sách đối với người lao động Việt Nam đi làm việc tại Hàn Quốc về nước đúng thời hạn:

+ Được tôn trọng, đối xử theo tư cách của người lao động hợp pháp, được pháp luật Hàn Quốc bảo vệ.

+ Được tham dự kiểm tra tiếng Hàn trên máy tính sau khi về Việt Nam và có thể quay trở lại Hàn Quốc làm việc trong vòng 06 tháng kể từ ngày về nước, sau khi đạt yêu cầu qua kỳ kiểm tra tiếng Hàn trên máy tính, được tổ chức 03 tháng/lần, nếu có nguyện vọng quay trở lại Hàn Quốc làm việc.

+ Kể từ ngày 02 tháng 7 năm 2012, đối với những người lao động trong thời gian 04 năm 10 tháng hoặc 06 năm làm việc tại Hàn Quốc không chuyển đổi nơi làm việc, sau khi hết hạn hợp đồng lao động trở về nước đúng thời hạn, thì những người lao động này sẽ được phép tái nhập cảnh Hàn Quốc làm việc sau 03 tháng mà không phải tham dự kiểm tra tiếng Hàn.

+ Được nhận lại khoản tiền bảo hiểm hồi hương (400.000 won) và bảo hiểm bảo đảm mãn hạn về nước (mỗi năm làm việc được hưởng trợ cấp 01 tháng lương).

+ Được hỗ trợ đào tạo nghề miễn phí trước hoặc sau khi về nước (do Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc tổ chức).

+ Được tư vấn khởi nghiệp, giới thiệu việc làm trong các công ty Hàn Quốc đang đầu tư tại Việt Nam.

- Thông tin những biện pháp chế tài đối với người lao động hết hạn hợp đồng lao động không về nước, ở lại làm việc và cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc:

+ Không được pháp luật Hàn Quốc bảo vệ trong thời gian cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.

+ Không còn cơ hội quay trở lại Hàn Quốc làm việc, học tập, du lịch vì bị cấm nhập cảnh vào Hàn Quốc.

+ Không được hưởng các chế độ như: bảo hiểm bảo đảm mãn hạn về nước, bảo hiểm y tế, bảo hiểm rủi ro... ngoài ra người lao động có thể bị chủ sử dụng cắt, giảm lương hoặc nợ lương.

+ Luôn lo lắng bất an và phải trốn tránh sự truy quét thường xuyên của cảnh sát Hàn Quốc truy bắt, nếu bị bắt sẽ bị xử lý theo Luật hình sự của Hàn Quốc và trục xuất về nước hoặc bị phạt từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (theo quy định tại Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng) và không được đi làm việc ở nước ngoài trong thời gian từ 3 - 5 năm, người thân trong gia đình sẽ bị hạn chế đăng ký đi làm việc tại Hàn Quốc.

+ Hạn chế tuyển chọn lao động đối với phường, xã, thị trấn có nhiều lao động ở lại cư trú bất hợp pháp.

b) Trên cơ sở danh sách người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc, tổ chức tuyên truyền, vận động đến từng gia đình người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc cam kết việc vận động thân nhân về nước đúng hạn. Đối với những trường hợp người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc đã hết hạn hợp đồng lao động nhưng không về nước đúng hạn, hiện đang cư trú và làm việc bất hợp pháp tại Hàn Quốc, chính quyền địa phương yêu cầu từng gia đình người lao động vận động, kêu gọi thân nhân trở về nước, trình báo ngay với cơ quan chức năng để làm thủ tục về nước theo quy định.

2. Tổ chức thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp người lao động xuất cảnh đi làm việc tại Hàn Quốc đã có hành vi ở lại Hàn Quốc trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động theo quy định tại Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng.

 

Nguyên Ngân